Posted by : ATRI Thứ Năm, 28 tháng 3, 2024

 Thiếu Niên Và Chim Diệc – Tác Phẩm Đoạt Giải Oscar Phim Hoạt Hình Xuất Sắc Nhất?

Trước khi trực tiếp đi vào phần phân tích và bàn luận tác phẩm thì mình sẽ đi qua hai phần trước để giới thiệu về Lý Thuyết Phê Bình Văn Học(Literary criticism theories) để các bạn có thể tự phát triển quan điểm nhìn nhận về tác phẩm của bản thân thay vì phải phụ thuộc vào bất cứ một người viết nào khác. Ở đây mình chọn cách nhìn nhận tác phẩm điện ảnh như phim dưới góc độ một tác phẩm văn học, bởi lẽ bản chất chúng đều là những hình thức nghệ thuật kể chuyện, chuyển tải những thông điệp, cảm xú

c và tư tưởng thông qua nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và các biện pháp nghệ thuật. Và bài viết của mình gồm bốn lý thuyết phê bình chính sẽ được khai thác cụ thể hơn ở phần dưới, bao gồm: Chủ nghĩa hình thức (Formalism), Lý thuyết tiếp nhận (Reader-Response Theory) và Phê bình tâm lý (Psychological Criticism), Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism). Mình sẽ không lặp lại những thuật ngữ này trong bài để tránh khiến bài viết trở nên khó hiểu.
I. Mối liên hệ giữa tác giả và tác phẩm
Đây có lẽ là phần gây tranh cãi nhất khi những cuộc bàn luận về phim được nổ ra, với cực kỳ nhiều các ý kiến trái chiều xoay quanh về mối liên hệ giữa tác phẩm và “hệ sinh thái của Ghibli”. Ở phần này tạm thời mình sẽ không xét đến hệ sinh thái mà Ghibili tạo ra mà sẽ tập trung vào những thứ liên quan tới “chuyên môn” hơn một chút. Ở phần sau của bài viết thì tôi sẽ gọi ngắn gọn tên của bộ phim này là Diệc.
Đầu tiên, thì mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm luôn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trong việc đánh giá và thưởng thức tác phẩm, rất nhiều tác phẩm khác từ văn học đến điện ảnh đều gặp vấn đề tương tự chứ không phải mỗi tác phẩm chim diệc của Ghibli. Có hai quan điểm chính cần được điểm tới khi nhắc về mối liên hệ giữa tác giả và tác phẩm của họ, thứ nhất là quan điểm cho rằng việc tìm hiểu về cuộc đời, cũng như tư tưởng hay hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh tạo ra tác phẩm sẽ dễ dàng hơn cho người xem trong việc tìm hiểu sâu hơn về tác phẩm. Và ở chiều hướng ngược lại, nhiều người lại cho rằng chúng ta nên tách biệt tác giả ra khỏi tác phẩm, và chỉ nên tập trung vào xem xét tác phẩm như một ấn phẩm tồn tại độc lập mà thôi.
Với những người theo quan điểm đầu tiên, đó là ủng hộ việc tìm hiểu tác giả, đã cho rằng mỗi tác phẩm được tạo ra đều là một sản phẩm tinh thần của người và đội ngũ tạo ra nó. Bởi lẽ tác phẩm là một phương tiện phản ánh tâm tư, tình cảm, trải nghiệm và thế giới quan của những người tạo ra nó, bởi vậy nên do đó thì khi tìm hiểu về tác giả, thì ta sẽ có một cái nhìn đa chiều hơn về ý nghĩa mà tác phẩm mong muốn mang lại. Ví dụ như với trường hợp của tác phẩm Diệc này, thì một số thông tin bên lề cho chúng ta biết rằng là tác phẩm này có nhiều chi tiết được lấy cảm hứng tuổi thơ của chính đạo diễn Miyazaki, qua đó ta sẽ có thể nhận thấy rằng tác phẩm có hơi hướng mang tính cá nhân và gắn bó với ông hơn chẳng hạn. Hay là khi hiểu được hoàn cảnh xã hội và tâm trạng của tác giả trong khoảng thời gian sáng tác ra tác phẩm, thì ta sẽ có thể nắm bắt rõ hơn những thông điệp mà họ muốn gửi gắm qua tác phẩm. Tuy nhiên, cũng cần biết rằng những người ủng hộ quan điểm này cũng cho rằng việc tìm hiểu tác giả chỉ như là một phương tiện để hỗ trợ người xem có thể hiểu tác phẩm rõ ràng và sâu sắc hơn chứ hoàn toàn không phải là một yếu tố quyết định trong việc phân tích cũng như đánh giá tác phẩm.
Và ở chiều ngược lại, nghĩa là những người cho rằng nên tách biệt tác giả ra khỏi tác phẩm của họ, thì luận điểm chính của họ lại cho rằng là, mỗi khi một tác phẩm bất kỳ nào đó được hoàn thành, nó sẽ như là một tồn tại độc lập, tức là ý nghĩa hay thông điệp của nó sẽ không còn phụ thuộc vào người sáng tác ra nó nữa. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng một tác phẩm cần phải tự thân vận động, tự tạo ra giá trị cho bản thân nó, và phải có khả năng tự truyền tải được những thông điệp mà nó mang lại mà không cần những sự trợ giúp từ các yếu tố bên ngoài. Giống như muốn hiểu một tác phẩm nào đó, mà phải tìm hiểu tác giả và cuộc đời của tác giả thì đó sẽ được coi là một hạn chế của tác phẩm. Bên cạnh đó thì nếu như quá tập trung vào tác giả, cuộc đời hay những tác phẩm trước đó của tác giả, sẽ dễ có thể khiến người xem, người đọc bỏ lỡ mất giá trị nội tại của tác phẩm và áp đặt vào đó những suy diễn chủ quan từ cuộc đời và sự nghiệp của tác giả lên tác phẩm.
Có thể thấy, môt số học thuyết phê bình văn học như là chủ nghĩa hình thức Nga, hay Phê bình mới hoặc là Chủ nghĩa cấu trúc, đều có khuynh hướng, chủ trường tách biệt tác giả ra khỏi tác phẩm. Những học thuyết này cho rằng những ý đồ của tác giả không quan trọng bằng chính cấu trúc và nội dung của bản thân tác phẩm ấy đem lại. Mỗi tác phẩm nên được nhìn nhận như một thực thể độc lập, mang tính hệ thống và có những quy luật riêng. Và những người phân tích cần tập trung vào mối quan hệ giữa nội tại của tác phẩm cũng như các yếu tố trong tác phẩm như là cốt truyện hoặc là nhân vật, biểu tượng, không- thời gian,... chứ hoàn toàn không phải dựa vào ý đồ chủ quan của tác giả.
Chẳng hạn như một số nhà phê bình mới (New Criticsm) thì cho rằng các tác phẩm văn học, điện ảnh cần được coi như một thể thống nhất, trong đó thì mọi yếu tố của tác phẩm phải được liên kết một cách chặt chẽ với nhau. Ví dụ như với Cleanth Brooks, một đại diện tiêu biểu của những nhà phê bình mới với tác phẩm “The Well Wrought Urn” đã cho rằng “Thơ là một cấu trúc bền vững bao gồm các nghịch lý”. Cá nhân ông cho rằng là thơ ca thường chứa đựng những mâu thuẫn, những nghịch lý, nhưng chính các yếu tố đối lập ấy lại đang tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh, một sự thống nhất về mặt cấu trúc trong tác phẩm. Và nhiệm vụ của người đọc là tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố tưởng chừng như mâu thuẫn, để có thể thấu hiểu được ý nghĩa tổng thể mà tác phẩm mang lại.
Tương tự, thì chủ nghĩa cấu trúc cũng nhấn mạnh tính chất của tác phẩm như một hệ thống hoàn chỉnh. Các nhà cấu trúc luận ví dụ như Roman Jakobson, hay Claude Levi-Strauss đã cho rằng mỗi tác phẩm đều có một cấu trúc “tiềm ẩn” ở bên dưới, và thứ cấu trúc đó đang chi phối mọi yếu tố “bề mặt”. Các cấu trúc này thường mang tính nhị nguyên đối lập ví dụ như là Thiện-Ác, Sáng- Tối,... Từ đó, khi phân tích bất kỳ tác phẩm nào thì chúng ta cũng cần tìm ra những cặp đối lập cơ bản, cũng như cách mà chúng tương tác, chuyển hóa lẫn nhau để tạo nên ý nghĩa tổng thể xuyên suốt tác phẩm.
Như vậy theo quan điểm các trường phái tôi đã trình bày ở trên, thì giá trị của tác phẩm được coi là nằm ở chính bản thân nó, như một tồn tại độc lập hoàn toàn chứ không cần phải phụ thuộc vào tác giả. Và một tác phẩm tốt thì càng phải làm được như vậy, nghĩa là nó phải có khả năng tự đứng vững và tự giải thích chính mình cho người đọc, người xem mà không cần viện dẫn đến ý đồ, tiểu sử hay là sự nghiệp của tác giả. Mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại trong tác phẩm mới nên là điều được chú trọng khi bất kỳ ai muốn phân tích hay đánh giá tác phẩm.
Ngoài ra cũng có một số ý kiến, quan điểm dung hòa hơn cho rằng chúng ta không nên cắt đứt sự liên kết giữa tác giả và tác phẩm, những người có quan điểm này cho rằng người đọc, người xem cần phải linh hoạt để tùy trường hợp và mục đích để mà vận dụng linh hoạt cả hai cách tiếp cận trên. Đối với những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân, thì việc tìm hiểu tác giả sẽ mang lại cho chúng ta nhiều thông tin hữu ích, góc nhìn đa chiều hơn. Nhưng ngược lại, thì đối với những tác phẩm có tính phổ quát cao, thì ta hoàn toàn có thể thưởng thức cũng như bàn luận và phân tích tác phẩm đó mà không cần xét những thông tin về tác giả trong hệ quy chiếu mà chúng ta đang xem xét tác phẩm. Bởi vì cuối cùng thứ quan trọng nhất chúng ta hướng tới đó là nhận diện được giá trị nội tại của tác phẩm, và đồng thời cũng phải cởi mở để có thể tiếp nhận những thông tin, góp ý từ bên ngoài để có thể làm phong phú hơn về mặt nhận thức và trải nghiệm.
Chẳng hạn khi thưởng thức các tác phẩm của Franz Kafka chẳng hạn, thì việc tìm hiểu về mối quan hệ phức tạp của ông và cha mình, hay về bối cảnh xã hội và tâm lý cá nhân sẽ có thể giúp chúng ta lý giải những hình tượng nghệ thuật đầy ẩn ý và cũng có phần phi lý trong những tác phẩm mà ông sáng tác. Tuy nhiên nếu chỉ dừng ở đó mà không đi sâu hơn vào việc tìm hiểu chính bản thân các tác phẩm, thì ta sẽ bỏ lỡ nhiều ý nghĩa phổ quát như là về sự cô đơn, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội và những ý nghĩa khác mà Kafka muốn gửi gắm thông qua các tác phẩm của ông.
Ngược lại thì với những tác phẩm có thể được gọi với cái tên là kiệt tác vượt thời đại, ví dụ như Hamlet của Shakespeare, hay “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Tolstoy, thì ta vẫn có thể thoải mái đắm chìm trong một thế giới hoàn toàn độc lập của các nhân vật trong tác phẩm, được tự do chiêm nghiệm về những vấn đề nhân sinh sâu sắc mà không cần thiết phải am tường, hiểu tận về những thứ như là cuộc đời hay sự nghiệp của tác giả. Giá trị mà những tác phẩm này mang lại thì nó lại nằm ở chính sức mạnh nội tại hoàn toàn độc lập của bản thân chúng, ở khả năng chạm tới những vấn đề có thể nói là cơ bản, muôn thuở từ xưa đến nay của con người.
Vậy nên có thể tóm tắt lại rằng, mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm từ xưa tới nay luôn là một vấn đề phức tạp, là một chủ đề gây tranh cãi trong rất nhiều tác phẩm đa dạng các thể loại, và chúng tùy thuộc vào quan điểm và phương pháp tiếp cận của một nhà phê bình, một nhà phân tích, hay đơn giản chỉ là một người xem có đam mê muốn tìm hiểu sâu về tác phảm. Cũng cần nhận thức được rằng, mỗi cách nhìn nhận đều có những ưu điểm và hạn chế của riêng chúng. Trong thực tế thì trong thưởng thức hay phê bình bất kỳ tác phẩm nào, chúng ta nên linh hoạt áp dụng nhiều góc nhìn, phương pháp tiếp cận khác nhau, đồng thời cũng phải cởi mở và tiếp thu những ý kiến từ bên ngoài, ví dụ như những thông tin về tác giả hay bối cảnh sáng tác ra tác phẩm. Có như vậy thì chúng ta mới có thể thấu hiểu và đánh giá bất kỳ một tác phẩm nào một cách toàn diện và công tâm nhất.
II. Quan điểm và cách tiếp cận tác phẩm.
Đầu tiên điều quan trọng nhất chúng ta cần phải nhận thức được là mỗi người cần phải có một cái nhìn toàn diện, khách quan và cũng phải có được sự sâu sắc, cùng với đó là phải tránh những nhận định phiến diện, chủ quan, cảm tính hay là áp đặt. Để làm được điều này thì người đánh giá cần phải xem xét các tác phẩm từ nhiều khía cạnh khác nhau, từ nội dung, cốt truyện hay nhân vật rồi cho đến các hình thức nghệ thuật, kỹ xảo hay bối cảnh văn hóa-xã hội.
Trước hết, cần phải nắm bắt được ý đồ cũng như thông điệp mà tác giả, hay trong trường hợp này là nhà làm phim muốn truyền tải qua tác phẩm. Mỗi bộ phim ra đời thì đều xuất phát từ một động lực, một ý tưởng sáng tạo nào đó, một vấn đề gì đó mà đạo diễn, nhà làm phim muốn tập trung khai thác, phản ánh. Việc nhận thức được điều này sẽ giúp mỗi người chúng ta có một cái nhìn thấu đáo cũng như có chiều sâu hơn với bất kỳ tác phẩm nào. Tuy nhiên cũng cần biết rằng chúng ta không nên quá phụ thuộc vào ý đồ của tác giả mà bỏ qua những giá trị nội tại của chính tác phẩm như tôi đã nói ở phần trên. Một tác phẩm văn học hay một bộ phim, cũng cần phải tự thân vận động để có thể truyền tải được thông điệp của bản thân chúng một cách rõ ràng, mạch lạc, thông qua các yếu tố về mặt nội dung cũng như cách thể hiện và khai tác cốt truyện, phát triển nhân vật, và đó cũng sẽ là phần tôi đang muốn nói ở phân đoạn tiếp theo.
Như chúng ta đã biết, cấu thành được một tác phẩm văn học hay một tác phẩm điện ảnh cần rất nhiều yếu tố, ví dụ dễ thấy nhất có thể kể đến như: Cốt truyện, phát triển nhân vật(Character Development), Không-Thời gian, cách khai thác/triển khai mạch truyện, rồi là âm nhạc, bối cảnh, góc quay, màu sắc, những biểu tượng,.. Tất cả những yếu tố đó cho dù nhỏ nhặt tới đâu đều đóng những vai trò nhất định của chúng vào quá trình hoàn thiện của tác phẩm, và chúng cần đượ xem xét theo hướng là những yếu tố có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Ví dụ như một cốt truyện hay, bắt buộc phải có được sự kết nối, phát triển hợp lý và thuyết phục, rồi là nhân vật cần có chiều sâu tâm lý, có cái hồn, có được sự chuyển biến rõ nét qua các sự kiện và tương tác trong hành trình.Các chi tiết nghệ thuật cũng cần phải hài hòa, qua đó bổ trợ lẫn nhau để góp phần tạo dựng không khí, cảm xúc cho phim, đặc biệt là những phân đoạn cao trào, thì các yếu tố này lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Và khi mọi yếu tố đã được phối hợp, phân bố hài hòa thì tất cả sẽ cùng nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, và tác phẩm sẽ có sức cuốn hút để từ đó dể lại giá trị, ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người xem chúng ta.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần đặt tác phẩm trong bối cảnh rộng lớn của nền công nghiệp điện ảnh hiện nay, của đạo diễn, studio hay nói rộng hơn là xã hội đương thời. Ví dụ như việc so sánh với những tác phẩm có cùng đề tài, thể loại sẽ giúp chúng ta thấy được sự sáng tạo, đột phá hoặc ngược lại như là những hạn chế của tác phẩm, cũng cần nhận định rằng những tác phẩm trước đó của đạo diễn, nhà làm phim cũng sẽ có thẻ là một căn cứ để chúng ta đối chiếu từ đó xem xét những sự tiến bộ, đổi mới trong phong cách làm phim của họ, và điều ngược lại cũng đúng khi mà có sự cải lùi trong tổng thể tác phẩm khi được đặt cạnh những tác phẩm cũ(một ví dụ minh chứng dễ thấy nhất đó chính là Shinkai với các tác phẩm của ông). Xa hơn nữa, có thể nhìn nhận những bộ phim ở các thời đại khác nhau, chúng cũng chịu ảnh hưởng để mà phản ánh một phần nào đó diện mạo xã hội, đời sống văn hóa và thị hiếu của công chúng trong một khoảng thời gian nhất định.
Tuy nhiên, có những ý kiến cho rằng việc đánh giá chiều sâu của một tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc phân tích các yếu tố cấu thành nên tác phẩm, mà còn phải chỉ ra được các mối liên hệ nội tại, cũng như những sự tương tác tinh tế giữa chúng. Từ đó tìm được câu trả lời cho những câu hỏi kiểu như: Làm thế nào để các tuyến truyện, các nhân vật có thể kết nối với nhau để tạo nên một cấu trúc hoàn chính? Làm thế nào mà những ý tưởng trừu tượng, những triết lý về nhân sinh được thể hiện một cách tự nhiên và thuyết phục qua những chi tiết hay hình ảnh cụ thể xuyên suốt tác phẩm? Làm thế nào những mâu thuẫn, xung đột được giải quyết một cách hợp lý về mặt logic và tâm lý? Và để trả lời được những câu hỏi này thì đòi hỏi người đánh giá phải có tư duy phân tích sắc bén cũng như khả năng cảm thụ tác phẩm cũng như có một vốn sống phong phú kèm theo một chút sự “nhạy cảm” trong nghệ thuật.
Đi vào tác phẩm cụ thể là tác phẩm Diệc mà chúng ta đang xét, một bộ phim của Ghibli đã giành giải oscar thứ 2 của phim hoạt hình nhật bản, sau người tiền bối Spirited Away(Vùng đất linh hồn) cách đây hơn 20 năm. Ta cần nhận định rằng một cách tiếp cận toàn diện sẽ không thể nào chỉ dừng ở lại việc khen ngợi về hình ảnh đẹp, ý tưởng độc đáo hay những thông điệp sâu sắc. Mà quan trọng hơn thì ta cần phải chỉ ra được những điểm bất cập trong cấu trúc tổng thể của phim. Đó chính là sự thiếu kết nối trong ba tuyến truyện chính: Hành trình tìm mẹ, chấp nhận người mẹ kế và trở thành chủ nhân của tòa tháp. Không khó để nhận ra mỗi tuyến truyện đều đang ẩn chứa những vấn đề nội tâm sâu sắc của nhân vật chính Mahito, nhưng chúng lại không được khai thác hoặc là được khai thác một cách hời hợt, từ đó tổng thể sẽ không thể nào trọn vẹn được. Chẳng hạn như việc Mahito thiếu đi những trải nghiệm có ý nghĩa và tương tác sâu sắc với người mẹ ruột Himi để thực sự hiểu mà nguôi ngoai đi nỗi đau mất đi người mẹ. Mối quan hệ giữa cậu và người dì Natsuko cũng không có nhiều không gian để khai thác và phát triển, thiếu đi những khoảng lặng để tạo nên tiền đề cho việc chấp nhận người mẹ mới này.Còn ở tuyến truyện của tòa tháp, thì Mahito dường như lại giống như một nhân vật đóng vai trò là “người quan sát” hơn là trực tiếp chuyển biến thành một nhân tố tham gia trực tiếp vào các sự kiện, nên từ đó ta rất khó có thể nhận thấy được sự trưởng thành trong nội tâm của nhân vật. Các tuyến truyện tưởng như là độc lập với nhau nhưng thực chất lại có quan hệ mật thiết, liên tục bổ sung cho nhau, từ đó có thể nhận định rằng nếu tác phẩm này khai thác tốt, thì cả ba tuyến truyện sẽ bổ sung cho nhau để tạo thành một bức tranh tổng thể hoàn chỉnh. Nhưng tiếc là tác phẩm này không làm được điều này.
Một chi tiết chúng ta cần xem xét đó là cái vòng luẩn quẩn mà tác phẩm tự đặt ra và nhốt chính bản thân nó vào. Có lẽ vì đang cố gắng trình bày những triết lý phức tạp về sự sống và cái c.h.ế.t, nên tác phẩm đã đánh mất thế mạnh vốn có của Ghibli nói chung và tác giả Miyazaki nói riêng, đó là kể những câu chuyện giản dị mà sâu sắc. Từ đó có thể thấy việc tác phẩm đang cố gắng nhồi nhét quá nhiều thứ và ý tưởng, triết lý vào một bộ phim movie đã phần nào phá vỡ đi cái cấu trúc chặt chẽ, từ đó khiến các yếu tố trong phim như đang “bóp nghẹt” lẫn nhau. Ví dụ như sự xuất hiện muộn màng của nhân vật Himi hay việc lấy đi mũi tên của Mahito một cách đầy khó hiểu là những biểu hiện rõ nét cho thấy kịch bản của phim dường như đang gặp một vấn đề gì đó mà có lẽ chỉ những người trong cuộc mới có thể hiểu được.
Nhưng tất nhiên những nhận xét trên không nhằm mục đích phủ nhận hoàn toàn các giá trị nghệ thuật mà tác phẩm Diệc đem lại, ví dụ như những hình ảnh mang đầy tính ẩn dụ sâu sắc, những khung cảnh thơ mộng đặc trưng của Ghibli hay cũng những thông điệp triết lý đáng suy ngẫm về sự sống và cái chết, tuổi trẻ và sự trưởng thành. Tuy nhiên khi ghép những mảnh ghép lại với nhau để tạo thành một bức tranh tổng thể, thì những điểm sáng này dường như không thể bù đắp cho những thiếu sót trong cấu trúc cốt truyện cũng như quá trình phát triển nhân vật. Có thể nói rằng tác phẩm này vừa cho thấy tầm vóc của Studio duy nhất có hai giải Oscar phim hoạt hình, nhưng cũng vừa cho thấy đây có lẽ là giới hạn trong tư duy làm phim của studio nói chung và Miyazaki nói riêng ở thời điểm hiện tại. (Tôi sẽ không xét những ý kiến cho rằng phim thắng oscar năm nay vì thiếu đi tác phẩm thật sự có khả năng cạnh tranh với nó vì quan điểm này sẽ dễ làm rối bài viết của tôi mà không thật sự bổ sung thêm vào được những ý cần thiết để tôi khai thác).
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng một cách tiếp cận toàn diện để mà có thể phê bình bất kỳ tác phẩm nào không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn ở một mức độ nhất định, mà còn cần có được sự sắc sảo, tinh tế trong cách nhìn nhận và lập luận. Người viết cần đặt tác phẩm vào nhiều hệ quy chiếu khác nhau, từ ngôn ngữ điện ảnh, cấu trúc của kịch bản cho đến bối cảnh xã hội hay dòng chảy điện ảnh đương đại. Phải nhìn thấy đuộc những cái hay và cả những cái dở, cái mới lẫn cái cũ, và đặc biệt là mối liên kết ngầm được tạo nên giữa chúng, Chỉ có vậy thì một bài phê bình đúng nghĩa mới có thể thực sự đi vào chiều sâu, để mang lại cho người đọc những thông tin hữu ích nhưng cũng không kém phần thú vị, cung cấp cho người đọc lẫn người xem một góc nhìn mới mẻ, thay vì chỉ là những bài nhận xét hời hợt, đặt nặng thứ cảm xúc theo cảm tính.
III. Vấn đề trong cách triển khai cốt truyện
Tác phẩm diệc như tôi nói ở phần trên, đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận về cách xây dựng cũng như triển khai cốt truyện, bất chấp việc phim sở hữu những hình ảnh đẹp, thơ mộng, cũng như một ý tưởng độc đáo, thì tổng thể của tác phẩm này tồn tại tương đối nhiều vấn đề. Tôi sẽ đi chi tiết vào ba tuyến truyện chính mà tôi đã tóm tắt ở phần trên:
- Tuyến truyện đầu tiền: Mối quan hệ giữa Mahito và mẹ ruột Himi của cậu, thật sự là không có nhiều khoảng không để khai tác. Những sự tương tác và khoảnh khắc đáng nhớ và ý nghĩa giữa hai mẹ con thật sự là quá ít ỏi, thiếu đi chiều sâu cần thiết. Mahito thì không có đủ thời gian lẫn không gian để có thể tìm hiểu về mẹ mình, để hàn gắn lại những nỗi đau và cảm xúc mất mát, tiếc nuối. Khoảng lặng duy nhất giữa hai người là khung cảnh ở căn bếp, nhưng chừng đó là không thể đủ để tạo nên một đòn bẩy để mà có thể tạo ra sự chuyển biến tâm lý cho nhân vật. Việc thiếu vắng đi những sự tương tác ý nghĩa giữa Mahito và Himi đã khiến cho phân đoạn chia cách của hai mẹ con ở phần cuối phim diễn ra quá vội vàng, gượng ép và thiếu chiều sâu về mặt cảm xúc đem lại cho người xem
- Tương tự với tuyến truyện thứ hai, khi mà mối quan hệ của Mahito và người dì Natsuko của cậu cũng phát triển theo cách khá là đột ngột, vội vã cũng như thiếu mất đi sự thuyết phục, tính hợp lý. Phim dành cho hai người quá ít không gian để có thể tạo ra những tương tác có ý nghĩa. Mahito gần như không đối mặt trực tiếp với dì Natsuko, không trực tiếp trải qua những biến cố hay những khoảnh khắc khó khăn nào bên cạnh cô. Vậy mà đột nhiên cậu gọi cô bằng tiếng “mẹ”, để rồi chấp nhận cô một cách dễ dàng mà không có bất cứ một dẫn dắt tâm lý nào thật sự hợp lý. Điều này khiến cho việc hòa giải mâu thuẫn cũng như quá trình bồi đắp ra những thứ cảm xúc thân thiết, phụ thuộc giữa hai nhân vật này trở nên cực kỳ khập khiễng và gượng ép. Phim đã bỏ lỡ mất cơ hội để Mahito đối mặt và trỉa qua những biến cố cùng với dì Natsuko, từ đó mà cậu có thể rút ra bài học, thay đổi nhận thức, có những bước chuyển tâm lý rõ ràng để mà có thể chấp nhận Natsuko một cách tự nhiên và thuyết phục hơn.
- Không ngoại lệ với tuyến truyện thứ ba về tòa tháp và những thứ liên quan tới triết lý cuộc sống, thì Mahito lại tiếp tục thể hiện sự thụ động của bản thân, cậu không trực tiếp là một nhân tố tham gia mà làm một vai trò giống như một người quan sát trong phần lớn hành trình, từ khung cảnh trên biển với Kiriko cho đến cuộc gặp gõ với bầy vẹt. Những trải nghiệm của Mahito tại tòa tháp này thiếu mất đi tính chủ động, từ đó đánh mất ý nghĩa của tuyến truyện này. Cậu không thực sự đối diện với những thử thách, không hề phải vượt qua giới hạn của bản thân hay đưa ra những quyết định táo bạo. Ngay cả khi tiếp xúc với những loại sinh vật kỳ lạ như bồ nông hay bầy vẹt, Mahito dường như cũng chả có thêm một bước phát triển tâm lý cụ thể nào, cậu không rút ra được bài học gì cho bản thân cậu. Tất cả những yếu tố này khiến cho quá trình phát triển nội tâm, trưởng thành của nhân vật trở nên mờ nhạt, thiếu mất đi sự thuyết phục.
Một vấn đề khác của tác phẩm cũng cần xem xét đó chính là sự mất cân bằng giữa các tuyến truyện và thông điệp mà tác phẩm muốn gửi gắm, đó là nó đang cố gắng ôm đồm quá nhiều thứ như là tình mẫu tử, sự chấp nhận cho đến những triết lý về sự sống và cái c.h.ế.t. Tuy nhiên việc tác phẩm cố dồn ép tất cả mọi thứ vào một thời lượng giới hạn đã khiến cho các ý tưởng khác không có không gian để có thể phát triển tiếp, mâu thuẫn nội tâm nhân vật cũng không được giải thích một cách thỏa đáng. Bởi lẽ thay vì cố gắng làm cho những yếu tố của tác phẩm có thể kết hợp hài hòa với nhau, thì tác phẩm lại đang đè nén, tạo ra sự cạnh tranh giữa các yếu tố khác nhau, từ đó tạo ra một sự lộn xộn, thiếu tính focus cho tác phẩm.
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến những chi tiết bất hợp lý và thiếu đi tính nhất quán trong tác phẩm. Ví dụ như việc Mahito sớm có được mũi tên với sức mạnh, nhưng rồi nhanh chóng để đánh mất nó một cách vô lý và đầy sự khó hiểu. Ban đầu thì cốt truyện dự định trao cho Mahito như một công cụ để cậu có thể chủ động thay đổi số phận của mình, từ đó quyết định hướng đi theo ý chí riêng của cậu mà không bị bất kỳ điều gì định đoạt. Tuy nhiên ngay sau đó, mũi tên lại bị tước đi trong một phân cảnh hỗn loạn, thiếu một cấu trúc rõ ràng. Điều này cho thấy sự thiếu nhất quán trong quá trình xây dựng và phát triển nhân vật cũng như cốt truyện. Thay vì để cho Mahito sử dụng mũi tên như một phương tiện để khám phá bản thân, vượt qua những thử thách thì phim lại tước mất đi cơ hội đó của cậu một cách đột ngột và thiếu hẳn đi tính thuyết phục.
Một ví dụ thiếu nhất quán khác trong phim đó là sự xuất hiện có phần muộn màng cũng như thiếu tương tác của nhân vật Himi, mẹ ruột của Mahito. Cho dù Himi đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết một trong những vấn đề của Mahito lúc này là nỗi đau mất mát người mẹ, nhưng sự xuất hiện của cô cả về thời gian lẫn ý nghĩa lại rất mờ nhạt trong quá trình phát triển nội tâm của nhân vật Mahito. Điều này dẫn đến việc là mối quan hệ giữa hai mẹ con không có đủ không gian và thời gian để phát triển, dẫn đến một hệ quả tất yếu là quá trình kết nối tình cảm giữa họ diễn ra một cách gượng ép và thiếu đi chiều sâu cần thiết. Giả sử như Himi xuất hiên sớm hơn và có nhiều đất diễn, không gian phát triển hơn cũng như có được nhiều tương tác ý nghĩa hơn với Mahito thì cốt truyện của tác phẩm nói riêng hay bức tranh tổng thể tác phẩm có thể sẽ thuyết phục và ý nghĩa hơn rất nhiều.
Tương tự, thì sự xuất hiện của bầy vẹt kỳ lạ cũng là một chi tiết gây tranh cãi khi chúng ta bàn luận, phân tích về tác phẩm phim. Bởi vì mặc dù bầy vẹt này mang đến cho phim một hình ảnh độc đáo, ấn tượng và có tính ẩn dụ, tuy nhiên vai trò của chúng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của nhân vật nói chung và cốt truyện nói riêng lại không được khai thác đầy đủ và chi tiết. Bởi lẽ Mahito gần như không có tương tác trực tiếp cũng như ý nghĩa gì đối với con vẹt vua, vốn được coi là hiện thân của nỗi ám ảnh với cuộc sống ở bên trong tòa tháp này. Giả sử như nếu mối quan hệ giữa Mahito và con vẹt vua này được xây dựng tốt hơn, khai thác chi tiết và thuyết phục hơn thì nó sẽ có thể tạo ra một đối trọng thú vị để từ đó có thể làm nổi bật lên thông điệp cuộc sống được gửi gắm ví dụ như là giá trị của cuộc sống tự do bên ngoài. Nhưng tuy nhiên, thì cơ hội này lại một lần nữa bị bỏ lỡ, và tổng thể nó khiến cho sự xuất hiện của bầy vẹt này trở nên khá lạc lõng và vô nghĩa, bởi lẽ chúng không mang lại những đóng góp thật sự có giá trị cho sự phát triển tổng thể về mặt cốt truyện nói chung hay nhân vật nói riêng.
Những chi tiết bất hợp lý và thiếu nhất quán này có thể cho thấy sự thiếu định hướng ngay từ đầu trong khâu viết và dựng kịch bản, mặt khác nó còn cho thấy một quá trình tái cấu trúc vội vàng và không thành công đã được diễn ra của bên Ekip làm phim. Bởi lẽ thay vì xây dựng nên một câu chuyện với cấu trúc chặt chẽ với các tuyến truyền liền mạch cũng như nhân vật được phát triển một cách mạch lạc, thì bộ phim dường như lại đang sa đà vào việc cố gắng tạo ra những khoảnh khắc ấn tượng nhưng cũng đầy tính rời rạc và sự thiếu liên kết, kết nối. Điều này đã khiến cho tổng thể phim trở nên lộn xộn, khó nắm bắt và đánh mất đi chiều sâu về mặt cảm xúc mà đáng ra phim có thể chạm tới được. Và từ đó, có thể nói rằng, sự thiếu định hướng và nhất quán trong quá trình viết và dựng kịch bản của Diệc xuất phát chính từ nguyên nhân là ekip làm phim đang cố gắng tìm cách đưa vào tác phẩm quá nhiều ý tưởng và tham vọng trong một khoảng thời gian bị giới hạn. Và thay vì tập trung vào một thông điệp, ý nghĩa rõ ràng nào đó cũng như tìm cách triển khai, hợp lý hóa và tạo ra liên kết các tuyến truyện, bao gồm cả những nhân vật bao hàm trong đó, thì phim lại chọn cách đi theo nhiều hướng khác nhau và không thể có được một cách thức nào đó hài hòa để có thể kết nối chúng lại với nhau. Rõ ràng, bất cứ ai đều có thể thấy tiềm năng trong tác phẩm của Ghibli nhưng nó lại không thể phát huy được như những gì các tác phẩm đi trước đã làm được, nó đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để có thể khiến một tác phẩm điện ảnh vừa thành công về mặt doanh số và mặt chuyên môn ra đời.
IV. Những triết lý được gửi gắm trong tác phẩm
Như đã nói ở phần trên, tác phẩm được đánh giá cao về mặt hình ảnh, âm nhạc hay ý tưởng độc đáo, nhưng cũng vấp phải những ý kiến trái chiều về sự rời rạc và sự thiếu nhất quán trong quá trình thể hiện và trình bày các tư tưởng và triết lý. Tác phẩm cố gắng trình bày một triết lý phức tạp về sự sống, cái chết và ý nghĩa của cuộc đời, và nó dường như đang đánh mất đi thế mạnh của Ghibli nói chung và đạo diễn Miyazaki nói riêng, đó những câu chuyện giản dị mà sâu sắc. Có thể thấy, thì trong quá khứ studio Ghibli nổi tiếng với những tác phẩm mang thông điệp nhân văn, triết lý sống giản dị nhưng đầy thấm thía như "Mononoke", "Spirited Away", "Howl's Moving Castle"... Những tác phẩm này thường có cốt truyện rõ ràng, mạch lạc và tập trung vào sự phát triển, trưởng thành của nhân vật chính. Thế nhưng, "Thiếu niên và chim diệc" lại đi theo một hướng khác, với nhiều tuyến truyện đan xen, nhiều ý tưởng trừu tượng, mang tính biểu tượng cao, vô tình làm giảm đi sức ảnh hưởng cũng như giá của thông điệp chính mà phim muốn truyền tải.
Như tôi đã nói ở phần đầu, bởi vì tác phẩm này là một tác phẩm mang đậm tính cá nhân và dấu ấn của đạo diễn Miyazaki, nó theo một phong cách tôi tạm gọi là “giấc mơ”, nên việc đòi hỏi một câu chuyện quá chặt chẽ có lẽ cũng chưa chắc đã là tối ưu nhất. Một phần, phim đã phản ánh rất nhiều hoài niệm, cũng như trăn trở của chính đạo diễn Miyazaki về tuổi thơ, về những mối quan hệ trong gia đình, rồi là những triết lý nhân sinh. Và chính vì lẽ đó, nên cấu trúc của phim cũng mang tính “mơ hồ” với những hình ảnh, ký ức đan xen và cảm xúc dạt dào. Cho nên có thể thấy rằng việc cố gắng áp đặt lên nó một khuôn khổ theo quy chuẩn nào đó sẽ dễ làm mất đi cái vẻ đẹp mơ hồ, đa tầng nghĩa vốn có của nó...
Nhưng tuy nhiên điều này không có nghĩa là phim không gặp vấn đề trong việc cân bằng và kết nối các tuyến truyện và chủ đề, 2 điều này là hoàn toàn khác nhau. Như ta có thể thấy, giả dụ như tình mẫu tử có thể không phải là trọng tâm duy nhất mà phim muốn hướng tới, nhưng cần biết rằng gần như là nó đã chiếm 2/3 thời lượng của tác phẩm mà lại không mang lại một điều gì thật sự có ý nghĩa, trong khi những triết lý sống trong tuyến truyện tòa tháp chỉ chiếm 1/3, nó đã cho thấy sự mất cân đối và sự thiếu liên kết trong cấu trúc tổng thể chung của tác phẩm. Dẫn đến tác phẩm đã gặp quá nhiều vấn đề trong việc truyền tải những ý nghĩa một cách mạch lạc, cô đọng và thuyết phục. Và chúng ta cũng cần khẳng định lại một lần nữa, rằng một tác phẩm hay không chỉ cần có những ý tưởng táo bạo, những thông điệp ý nghĩa mà còn cần một cấu trúc chặt chẽ, một tiết tấu phù hợp để truyền tải chúng một cách hiệu quả nhất. Có như vậy thì một tác phẩm mới có thể thật sự chạm đến trái tim của khán giả, mới khiến họ suy ngẫm và trăn trở sau khi bước chân ra khỏi rạp chiếu.
Một lần nữa phải nhắc lại, dù cho còn nhiều tranh cãi về tác phẩm, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng tác phẩm Diệc là một tác phẩm mang tâm huyết cũng như dấu ấn của đạo diễn Miyazaki cùng đoàn làm phim. Tác phẩm này đã mở ra nhiều góc nhìn mới để người xem có thể chiêm nghiệm về cuộc sống, về mối liên hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. Có thể dù nó không hoàn hảo, nhưng tác phẩm Diệc vẫn nên được tôn trọng như một nỗ lực không ngừng tìm kiếm và đổi mới của những người đã góp phần đưa nền công nghiệp anime lên một tầm cao mới. Qua tác phẩm cuối cùng này, đạo diễn Miyazaki một lần nữa khẳng định vị thế của mình khi tạo ra một tác phẩm thứ hai đoạt giải Oscar cho phim hoạt hình cũng nhiều giải thưởng khác, biến tác phẩm hoạt hình này là một công cụ, phương tiện để truyền tải những thông điệp đầy tính nhân văn và triết lý sâu sắc của cuộc đời. Đó là một di sản quý giá mà người đạo diễn 82 tuổi này để lại cho các thế hệ nhà làm phim mai sau.
Cảm ơn các bạn đã đọc

Leave a Reply

Subscribe to Posts | Subscribe to Comments

- Copyright © ReviewAni - Blogger Templates - Powered by Blogger - Designed by Cu Huy Hiep -